banner_content
thuvienanh
vanbantailieu

Liên kết

Triển vọng xuất khẩu của ngành Cơ khí Việt Nam

Giai đoạn 2001-2006, ngành Cơ khí Việt Nam được đánh giá đã đạt được những thành quả to lớn, không chỉ đáp ứng tốt nhu cầu phát triển của các ngành công nghiệp chủ lực của đất nước, mà còn giành được nhiều hợp đồng xuất khẩu lớn, mở ra một bước tiến mới khi Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO.

Tại Hội nghị triển khai kế hoạch xuất khẩu năm 2008 do Bộ Công Thương tổ chức vào trung tuần tháng 12/2007, ngành Cơ khí được xếp vào nhóm sản phẩm đạt tốc độ tăng trưởng cao trên 120% so với năm 2006, đem lại kim ngạch xuất khẩu trên 2,2 tỷ USD, điều mà chỉ cách đây vài năm, ít ai dám nghĩ. Báo cáo tại Hội nghị đánh giá Chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020, cũng cho thấy, nếu như vào những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ trước, ngành Cơ khí mới chỉ đáp ứng được khoảng 8-10% nhu cầu trong nước, thì đến những năm gần đây, con số này đã đạt 40%, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 40%/năm. Đây là một tín hiệu rất đáng mừng đối với một ngành được coi là ngành công nghiệp nền tảng, có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế-xã hội đất nước.
Theo báo cáo của Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam, hiện nay, cả nước có khoảng 53.000 cơ sở sản xuất cơ khí, thu hút trên 500.000 lao động, chiếm gần 12% lao động công nghiệp. Các doanh nghiệp cơ khí chủ yếu tập trung tại các thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng. Vùng đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ chiếm gần 90% giá trị sản xuất công nghiệp ngành Cơ khí cả nước, tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp cơ khí so với toàn ngành Công nghiệp đã tăng từ 8% lên 12%. Trong những năm qua, ngành Cơ khí đã có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế. Hàng năm, Ngành đã sản xuất trên 500 danh mục sản phẩm với tổng khối lượng hàng trăm ngàn tấn, đáp ứng nhu cầu cho các ngành kinh tế quốc dân. Đặc biệt, Ngành còn chế tạo thành công dây chuyền thiết bị toàn bộ phục vụ công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm như xay xát gạo, mì ăn liền, chế biến chè, chế biến mía đường quy mô vừa và nhỏ, thiết bị xi măng, thiết bị sản xuất VLXD, máy kéo nhỏ, động cơ diezen và xăng, thiết bị điện, một số sản phẩm tiêu dùng như quạt điện, xe đạp, dụng cụ cơ kim khí… Điều đáng nói ở đây là chất lượng thiết bị toàn bộ do Ngành chế tạo đã sánh ngang chất lượng các nước trong khu vực. Tổng công ty Lilama đã trở thành nhà tổng thầu EPC đầu tiên của Việt Nam khi trúng thầu các gói thầu số 2 và 3 của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, tiếp đến là chế tạo và lắp đặt phần lớn các thiết bị chính của Nhà máy Nhiệt điện Na Dương, Nhiệt điện Phú Mỹ 3, 4. Sau những thành công của các hợp đồng đầu tiên đó, uy tín của Lilama không ngừng tăng lên. Hiện nay, Lilama đang đảm đương vai trò tổng thầu chế tạo và cung cấp thiết bị cho hầu hết các dự án đầu tư lớn cho các nhà máy như: Nhiệt điện Uông Bí mở rộng với công suất 300 MW, tổng vốn đầu tư 300 triệu USD; Xi măng Sông Thao 2.500 tấn clanke/ngày, Xi măng Đô Lương 2.500 tấn clanke/ngày, Điện Cà Mau công suất 750MW và Điện Nhơn Trạch. Hiện nay, Lilama đang tự đầu tư thực hiện Dự án Nhiệt điện Vũng áng.
Đến nay, khối lượng thiết bị chế tạo đã được nội địa hoá chiếm 65-70% và lần đầu tiên, ngành Cơ khí trong nước đã chế tạo được lò nung cho nhà máy xi măng 2.500 tấn clanke/ngày, thực hiện nội địa hoá được toàn bộ kết cấu thép phục vụ xây dựng Trung tâm Hội nghị quốc gia tại Hà Nội.
Bên cạnh những bước tiến vượt bậc của Ngành Đóng tàu, Ngành Công nghiệp ô tô-xe máy cũng được ghi nhận với những kết quả đạt được trong khoảng 5 năm trở lại đây. Ngành đã đáp ứng được nhu cầu trong nước với các loại xe buýt có tỷ lệ nội địa hoá khoảng 40%, các loại xe tải nhẹ có công suất dưới 5 tấn và các loại xe gắn máy do chính các doanh nghiệp trong nước sản xuất với tỷ lệ nội địa hoá đạt từ 80-90%. Công ty Xuân Kiên (Vinaxuki), ô tô Trường Hải, Vinamoto là những doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư chiều sâu vào các khâu sản xuất thân vỏ xe, thùng xe, với các xưởng khuôn mẫu, dập ép, hàn, sơn tĩnh điện hiện đại, từ đó làm tăng dần tỷ lệ nội địa hoá trong sản xuất xe ô tô.
Đối với các nhà máy thuỷ điện có công suất đến 300MW, trước đây, phải nhập khẩu hầu hết các thiết bị cơ khí thuỷ công thì nay, toàn bộ phần này đều do ngành Cơ khí trong nước đảm nhận. Bộ Công Thương đang chỉ đạo các liên doanh cơ khí trong nước chế tạo và cung cấp thiết bị cơ khí thuỷ công cho các nhà máy thuỷ điện A Vương, Pleikrông, Bản Vẽ, Quảng Trị, Sesan 3, Đồng Nai, Huội Quảng, Bản Chát… với tổng trọng lượng thiết bị lên đến hàng chục ngàn tấn.
Từ các hợp đồng chế tạo sản phẩm, thiết bị cơ khí trong nước, các doanh nghiệp đã mạnh dạn nhận các hợp đồng chế tạo thiết bị cho các đối tác nước ngoài và tham gia vào thị trường xuất khẩu trong năm 2006. Hàng chục tấn thiết bị đường ống cút, van chịu mài mòn... cung cấp cho các dự án nhà máy điện đã được chế tạo và xuất khẩu đi Mỹ, Maliaxia và châu Âu. Hàng ngàn tấn kết cấu thép, lò hơi được xuất khẩu theo hợp đồng cho Nhà máy Điện BARH STPP của ấn Độ và các đối tác khác như: Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, úc. Còn nhiều doanh nghiệp cơ khí cũng có các hợp đồng xuất khẩu sản phẩm cơ khí đi các nước Đức, ý, Malaixia, úc, Mỹ, Hà Lan, Đan Mạch... với trị giá hàng chục triệu USD. Đáng chú ý là những sản phẩm xuất khẩu thiết bị toàn bộ do Tổng công ty LILAMA, mie, coma, Vinashin chế tạo. Cho đến nay, Lilama đã xuất khẩu 3.000 tấn thiết bị sang các nước với giá trị tổng cộng trên 50 triệu USD, MIE cũng đã đạt giá trị xuất khẩu hơn 10 triệu USD trong cả 2 năm 2005 và 2006. Riêng Coma đạt giá trị xuất khẩu hơn 4 triệu USD, còn Vinashin đạt 48 triệu USD xuất khẩu trong 2 năm 2005 và 2006. Bên cạnh các thiết bị toàn bộ hoặc hợp bộ, ngành Cơ khí còn đạt những thành tựu đáng kể trong xuất khẩu các máy móc thiết bị lẻ, phụ tùng và một số vật liệu kỹ thuật được Tổ chức ITC đánh giá và xếp hạng khá trên thị trường thế giới.
Tuy đạt được những thành tích cao về xuất khẩu, nhưng ngành Cơ khí vẫn còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong thời điểm hiện nay khi Việt Nam đã hội nhập WTO. Đây cũng là vấn đề được đặt ra tại Hội nghị đánh giá Chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020. Sự phát triển của ngành Cơ khí không thể tách khỏi hội nhập, do đó, Nhà nước không thể dùng các giải pháp ưu đãi về lãi suất vay vốn đầu tư để hỗ trợ cho ngành Cơ khí như trước đây. Để ngành Cơ khí tiếp tục phát triển thì rất cần có những cơ chế chính sách khác để hỗ trợ, bên cạnh đó còn rất cần sự định hướng của Nhà nước, đặc biệt là định hướng thị trường xuất khẩu.